Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
TRONG PHÒNG CHỐNG "DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH"

Với truyền thống yêu nước và nhân văn, cố kết cộng đồng trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, người dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau đều chung lưng đấu cật, đoàn kết trong lao động sản xuất xây dựng đất nước và chống ngoại xâm. Điều đó đã tạo nên truyền thống không xung đột, kỳ thị dẫn đến chiến tranh tôn giáo mặc dù Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Những chức sắc, giáo dân của các tôn giáo khác nhau, người dân không theo tôn giáo đẫ đoàn kết một lòng vì lợi ích chung của dân tộc. Măc dù có những thăng trầm trong lịch sử hình thành và phát triển, nhất là khi giải quyết mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị nhưng đồng bào theo tôn giáo vẫn là một bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Kế thừa, phát huy truyền thống đó, đứng vững trên lập trường cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác- Lênin, Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng đẫ chú trọng giải quyết tốt vấn đề tôn giáo, coi đó là vấn đề chiến lược của cách mạng trong giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, đồng bào không theo đậo, đồng bào theo các tôn giáo khác nhau đang đoàn kết theo Đảng, đồng hành cùng dân tộc thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Nư­ớc ta ở nơi giao lưu của nhiều luồng văn hoá, tôn giáo. Cùng với những tôn giáo “nội sinh”, các tôn giáo khác đã du nhập vào nư­ớc ta từ khá sớm, làm cho Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam chiếm một tỉ lệ t­ương đối lớn trong cộng đồng và dân số Việt Nam. Tính chung, số lượng tín đồ tôn giáo ở nước ta hiện nay chiếm khoảng 25% dân số cả nước. Sự thăng trầm của tôn giáo luôn gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử xã hội Việt Nam. Trong lịch sử, các tín ng­ưỡng tôn giáo, dù nội sinh hay ngoại nhập đều cũng đã góp phần tích cực trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các tôn giáo, giữa tôn giáo và chính trị cũng đã từng có những biến đổi với các khuynh h­ướng khác nhau, nhưng nhìn chung là đoàn kết vì lợi ích chung của dân tộc dựa trên nền tảng văn hoá Việt Nam được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử.
Tín đồ các tôn giáo ở Kết hợp với tín ngưỡng thờ thần của người dân bản địa, Phật giáo Việt Nam đã tạo nên hệ thống tứ pháp (Pháp vân, Pháp vũ, Pháp lôi,Pháp điện) và chính những ngôi chùa thờ tứ pháp, tuy mang hình dáng của Phật giáo, nhưng thực chất vẫn là những đền miếu dân gian thờ các vị thần tự nhiên của người bản địa. Người Việt còn đưa thần thánh, thành hoàng làng, thổ địa, các anh hùng dân tộc có công với nước vào trong chùa, tạo nên một lối kiến trúc độc đáo “Tiền Phật, hậu thần” trong các ngôi chùa Việt Nam. Cũng phải nói thêm rằng, ngôi chùa của người Việt không chỉ là nơi linh thiêng giành cho các phật tử, sư sãi, mà hơn thế còn là nơi mang tính cộng đồng sâu sắc. Đó không chỉ là nơi người dân đến cầu an lành, hạnh phúc, mà còn nơi hội họp, sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của người dân lao động. Chùa là nơi yên tĩnh, nơi giải thoát cho những vong hồn, linh hồn của người đã mất. Chính vì vậy, hầu như không có ngôi chùa nào ở Việt Nam mà lại không có bia hậu, có khu vực dành riêng để bát nhang tưởng nhớ những linh hồn đẫ khuất. Ơ đây, sự bản địa hoá Phật giáo đẫ làm cho Phật giáo Việt Nam dần trở thành một tôn giáo nhập thế, khác xa với nguồn gốc xuất thế của nó.
Đến từ phương Tây xa xôi, ngay từ ban đầu, đạo Công giáo đã không thể phát triển mạnh mẽ như Phật giáo, Nho giáo hay Đạo giáo. Về sau nhờ sự mềm dẻo, linh hoạt hơn trong hoạt động truyền giáo và cùng với những giá trị tích cực mà Công giáo có bước phát triển nhất định. Với sự thâm nhập, chuyển hoá của tư tưởng yêu nước, của tinh thần cố kết cộng đồng bền chặt, với lối sống nặng về tình cảm của con người Việt Nam, những giáo dân Việt Nam đẫ và đang thực sự hoà mình với dân tộc, với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tự giác xây dựng cho mình con đường “Kính Chúa yêu nước”, đề cao tinh thần “sống phúc âm trong lòng dân tộc”…
Nằm trên ngã ba đường của sự giao lưu văn hoá, kinh tế của phương Đông và phương Tây, nên các tôn giáo lớn trên thế giới dường như đều có mặt ở Việt Nam. Khi vào nước ta, chúng cũng bị biến đổi cho phù hợp  với lối sống và tâm lý của người dân. Điều quan trọng nhất là, trong quá trình thâm nhập và bị bản địa hoá, các tôn giáo ở Việt Nam có thể chung sống hoà bình với nhau, tạo nên một hiện tượng: tôn giáo vào trước mở rộng cửa đón nhận tôn giáo vào sau, tạo nên một sự hoà hợp rộng rãi. Sự du nhập của các tôn giáo vào Việt Nam, đặc biệt là của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đã tạo nên sự hỗn dung  thành “tam giáo đồng nguyên” trên đất nước ta. Khi nghiên cứu sự phát triển của dân tộc, một điều dễ nhân thấy, mà có thể rất ít gặp ở các dân tộc khác đó là: mặc dù có sự thâm nhập, sự giao thoa của rất nhiều loại hình tôn giáo, nhưng ở Việt Nam chưa hề có mâu thuẫn dẫn tới xung đột hay chiến tranh giữa các tôn giáo. Những khác biệt, những mâu thuẫn tôn giáo thường không gay gắt và dường như được dung hoà bởi tính cố kết cộng đồng, bởi lối sống giàu tình cảm của người dân Việt Nam. Bước vào nơi linh thiêng của người Việt- ngôi chùa làng- thì hiện tượng các vị thánh, thần, Phật được thờ chung một điện là khá phổ biến. Bên cạnh đó, trong cuộc đời của một người dân Việt Nam, hiện tượng hỗn dung các tôn giáo cũng được thể hiện một cách rõ nét. Điều này các tôn giáo về hình thức thì khác nhau nhưng nghiên cứu kỹ thì có thể thấy, nhiều khi sự khác nhau ấy chỉ là mhững cách diễn đạt khác nhau về cùng một vấn đề; các phương pháp thực hiện tuy khác nhau nhưng cũng hướng về một nội dung, một mục đích cụ thể. Chẳng hạn, cùng giải thích về đạo đức: Nho giáo dạy nhân nghĩa, Đạo giáo dạy yêu quí thiên nhiên, yêu quí sự sống, Phật giáo cấm sát sinh. Hay như khi bàn đến cuộc sống con người, Nho giáo nhấn mạnh về mặt tổ chức xã hội, Đạo giáo nhấn mạnh đến phần thân xác con người sao cho khoẻ mạnh, Phật giáo chú trọng đến phần tâm linh con người thoát khỏi cái khổ…Đó là những điều rất gần gũi với đời sống, với ước mong sống hạnh phúc, bình yên của người dân Việt. Do vậy, người dân tiếp nhận cả ba tôn giáo, đồng thời lĩnh hội và phát huy những cái hay, cái tiến bộ của từng tôn giáo trong cuộc sống, làm cho các tôn giáo hỗ trợ, bổ sung mà không mâu thuẫn với nhau. Người Việt Nam khi trẻ thì học Nho giáo để ra giúp nước, khi khổ ải trầm luân thì cầu khấn Phật, Trời phù hộ, khi ốm đau, già yếu thì mời đạo sĩ chữa bệnh trừ tà hoặc luyện tập dưỡng khí an thần. Trong tâm thức người Việt Nam, “tam giáo hòa đồng ", “tam giáo hợp lưu”, “tam giáo tịnh dụng” đã được đặt ra từ xa xưa, điều đó cũng có nghĩa là không có việc ủng hộ tôn giáo này, bài xích tôn giáo kia. Đó là đặc tính bao dung, hòa hợp của xã hội Việt Nam trong lịch sử.
Ở nước ta hiện nay có 6 tôn giáo lớn: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo. Ngoài ra, số đông nhân dân có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Trong đồng bào các dân tộc thiểu số còn tồn tại nhiều tín ngưỡng dân gian, tôn giáo nguyên thuỷ. Một số mâu thuẫn tôn giáo từng nảy sinh trong lịch sử hoàn toàn đều do các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài lợi dụng tôn giáo để phục vụ cho mục đích chính trị của chúng. Vì vậy, có thể nói đoàn kết giữa các đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, giữa đồng bào có đạo và những người không theo tôn giáo là một trong truyền thống quý báu của dân tộc ta.
2. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh (1945-1975) của dân tộc, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước sau như một, thực thi chính sách “tín ngưỡng tự do - Lương, Giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra từ phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng. Trong bài viết: “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” ngày 3/9/1945, một trong  6 nhiệm vụ mà Hồ Chí Minh đề cập đến là vấn đề tôn giáo. Người chỉ rõ: “thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương, Giáo đoàn kết”1. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phần lớn đồng bào tôn giáo đều yêu nước, tham gia kháng chiến, nhưng một phần bị địch lợi dụng như ngụy quân, Cao Đài, Hoà Hảo, Công giáo ở Ninh Bình, dẫn đến hoài nghi chính sách của Đảng, và đồng bào Lương, Giáo đều tốt. Người còn trực tiếp khen ngợi những linh mục thực sự sống tốt đời, đẹp đạo, như linh mục Lê Văn Liêm, khen ngợi đồng bào theo đạo Hoà Hảo đã quay súng về với Tổ quốc chống xâm lược. Đến với đồng bào theo đạo Công giáo, Người nói: “Chúa Cơ đốc sinh ra làm gương mọi giống phúc đức như: hy sinh vì nước, vì dân, làm gương lao động…. Tin thờ chúa bằng tinh thần. Chúng ta kháng chiến cứu nước, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất làm cho người cày có ruộng, tín ngưỡng tự do. Như thế là việc làm của chính phủ và nhân dân ta đều hợp với tinh thần Phúc âm”2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo còn được thể hiện ở sự nhận thức đúng và giải quyết đúng giữa tôn giáo và chính trị, giữa đạo và đời, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Tư tưởng đoàn kết Lương - Giáo của Hồ Chí Minh, quan hệ của Hồ Chí Minh với các chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo là một mẫu mực của việc thực hiện chính sách đại đoàn kết.  Đặc biệt là tư tưởng về mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị. Tôn giáo không thể tách ra khỏi đời sống chính trị. Theo Hồ Chí Minh: Tổ quốc độc lập, Tổ quốc được giải phóng thì tôn giáo mới tự do. Chính sách đó đã góp phần đem lại thành công cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Các tôn giáo đã đoàn kết dưới ngọn cờ của Đảng. Nhiều chức sắc, giáo dân đã hy sinh vì nền độc lập dân tộc. Trong xây dựng hoà bình, đồng bào Lương, Giáo đoàn kết thực hiện đường lối của Đảng để xây dựng đất nước và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
3. Trong sự nghiệp đổi mới, các thế lực phản động đứng đầu là đế quốc Mỹ chưa từ bỏ dã tâm đen tối, lợi dụng tôn giáo để thực hiện mục đích chính trị chống phá cách mạng nư­ớc ta, sử dụng tôn giáo như là một chiêu bài hòng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. Trong điều kiện nư­ớc ta gia tăng hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập WTO, cần cảnh giác với các âm mư­u, thủ đoạn của các thế lực thù địch, dùng đòn “tôn giáo” để “hạ bệ” Chủ nghĩa Mác - Lênin, lợi dụng vấn đề tôn giáo để can thiệp vào nội bộ n­ước ta, đòi phải theo “Luật tự do tôn giáo quốc tế” (HR2431) mà Mỹ đã dựng lên. Kẻ thù trắng trợn và ráo riết lợi dụng sự đa dạng của tôn giáo ở nước ta để chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo với thủ đoạn phân biệt duy vật và duy tâm, vô thần và hữu thần, chia rẽ giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau. Hiện nay Va-ty-căng đang chỉ đạo Công giáo đẩy mạnh xâm nhập vào phá hoại các tôn giáo khác, đặc biệt là Phật giáo. Sự chia rẽ, chống phá đó sinh ra mâu thuẫn, nghi kỵ, hiềm khích giữa các tôn giáo với nhau, giữa đồng bào theo đạo và đồng bào không theo đạo. Điều đó tạo nguy cơ phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đe doạ trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đồng bào theo đạo ở nước ta hiện nay chiếm khoảng 25% tổng dân số của cả nước, có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, văn hoá giáo dục, quốc phòng an ninh đối ngoại, tiềm ẩn những nhân tố gây ra mất đoàn kết giữa đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo, giữa đồng bào theo tôn giáo khác nhau.
Các tôn giáo có khả năng tạo ra sự liên kết xã hội chặt chẽ, củng cố tính cộng đồng. Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa thành sự cố kết cộng đồng trong từng tôn giáo riêng biệt, thậm chí là trong từng hệ phái, nhánh nhóm nhỏ 1ẻ của một tôn giáo, tức là hình thành nhà nước trong nhà nước, ắt sẽ dẫn đến nguy cơ chia rẽ, rạn nứt, mâu thuẫn xã hội làm suy yếu sức mạnh quốc gia.Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực to lớn hoàn thành mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do đó Đảng, Nhà nước ta đã và đang làm hết sức mình để  đồng bào có đạo hoặc không có đạo đoàn kết thành một khối vững chắc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều cần nhấn mạnh ở đây 1à Đảng Cộng sản Việt Nam có cái nhìn rất thoáng đạt về tôn giáo như sau : "Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc"3. Như thế, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức nhận định rằng tôn giáo không mâu thuẫn, không đối lập với dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây là một nhận định ngược lại với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Đảng và Nhà nước chẳng những không ngăn cản, hạn chế việc theo đạo và truyền đạo mà còn tạo điều kiện cho tín ngưỡng, tôn giáo được tự do. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể chế hóa bằng quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật và chính sách của Nhà nước. Đảng và Nhà nước chỉ có một yêu cầu chung nhất là: việc theo đạo và truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể là: Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo(cần chú ý điều này chủ yếu nhắm vào cán bộ nhà nước - những người thi hành công vụ). Nghiêm cấm lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các qui định của Hiến pháp và pháp luật.
Trong những năm đổi mới, để đáp ứng với yêu cầu mới về tôn giáo và công tác tôn giáo, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn. Năm 1990, Bộ Chính trị (khoá VI) ra nghị quyết 24, đề ra ba nhiệm vụ đối với đồng bào tín đồ về cả hai mặt đạo - đời. Ba nhiệm vụ đó thể hiện trong các nguyên tắc chính sách được thể chế hoá trong nghị định 69 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Sau Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991), quán triệt quan điểm tôn giáo và công tác tôn giáo của Đảng, Hiến pháp năm 1992 của Nhà nước ta, điều 70 ghi rõ: Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của nhà nước Ngày 2/7/1998, Bộ Chính trị ra chỉ thị về công tác tôn giáo trong tình hình mới với hệ thống các nguyên tắc và nhiệm vụ cụ thể. Đặc biệt nghị định 26 năm 1999 của Chính phủ đã đưa ra những quan điểm cơ bản và quy định cụ thể đối với các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo. Nội dung của những chỉ thị, nghị định này chính là sự vận dụng những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo ở nước ta. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng khẳng định: Nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia. Nghị quyết lần thứ VII BCHTW Đảng ( khoá IX) đã đưa ra những quan điểm cơ bản về tôn giáo và công tác tôn giáo: Khẳng định tôn giáo là một vấn đề tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo phải nhằm tăng cường đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Đại hội Đảng X khẳng định: Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, mọi tôn giáo khác nhau đã và đang đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Sức mạnh của quốc gia là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mọi người dân, dù sống trong nước hay ở nước ngoài, dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo, đều có nghĩa vụ và quyền lợi được xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết sẽ tạo nên nguồn sức mạnh to lớn để hoàn thành mọi đường lối chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước.
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. để giải quyết tốt vấn đề tôn giáo, thực hiện tốt chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước thì phải đoàn kết rộng rãi giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, giữa đồng bào theo đạo và đồng bào không theo đạo, giữa chức sắc tôn giáo và chính quyền, giữa các tổ chức tôn giáo với Nhà nước. Nhờ đó sẽ tạo ra môi trường chính trị ổn định, tâm lý tin tưởng lẫn nhau làm cơ sở cho xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, tạo điều kiện phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, làm cho việc thức hiện chính sách tôn giáo của Đảng thiết thực, hiệu quả và bền vững.           
Trên thực tế đồng bào có đạo và đồng bào không có đạo ở nước ta có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc thống nhất đất nước. Tinh thần đoàn kết đó được Đảng và Nhà nước ta không ngừng vun đắp ngày càng bền chặt, xây dựng cuộc sống “tốt đời đẹp đạo”, chống lại sự chia rẽ của kẻ thù. Chính quyền các cấp thường xuyên chăm lo xây dựng tinh thần đoàn kết, kịp thời giải quyết những xích mích nảy sinh trong các tôn giáo, giữa đồng bào theo đạo và đồng bào không theo đạo. Với phương châm “tôn trọng giáo chủ, tranh thủ giáo sỹ, thực lòng quan tâm đến giáo dân”, không xâm phạm đến đức tin của đồng bào có đạo; không xem nhẹ, bỡn cợt các nghi lễ tôn giáo; thường xuyên thăm hỏi, đối thoại, thuyết phục các giáo dân và các chức sắc tôn giáo nâng cao hiểu biết và thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước.
Hiện nay để tăng cường, củng cố và mở rộng mối đoàn kết giữa đồng bào có đạo và đồng bào không có đạo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, góp phần phòng chống "Diễn biến hoà bình", đòi hỏi chúng ta cần phải làm tốt những vấn đề sau:
Một là: Đảy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Tập trung sức phát triển toàn diện đất nước, gắn phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, đặc biệt ở vùng xa vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào theo đạo. Đây là điểm tương đồng, là mẫu số chung cho sự đoàn kết dân tộc và đoàn kết tôn giáo một cách có hiệu quả thiết thực và bền vững. Cơ sở khách quan vững chắc của khối đoàn kết là lợi ích chung của mọi người Việt Nam Giáo cũng như Lương đó là quyền được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc. Từ bao đời nay, nhân dân ta hết sức coi trọng “tình làng, nghĩa xóm”, “ người chung một nước…” đó là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh Việt Nam trong dựng nước và giữ nước. Cần đoàn kết đến tất cả những ai vẫn còn thừa nhận mình là con dân nước Việt, nhờ thế mà gạt đi được những đối kháng về quyền lợi bộ phận trong những hoàn cảnh nhất định để tập trung phục vụ lợi ích chung của toàn dân tộc.
Mở rộng quan điểm trên, ngày nay có cái gọi là học thuyết "nhân quyền cao hơn chủ quyền" (ý nói chủ quyền quốc gia) trong đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 1à một nhân quyền quan trọng bất khả xâm phạm. Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo đúng là một nhân quyền bất khả xâm phạm, nhưng chủ quyền quốc gia lại 1à điều kiện tiên quyết cho mọi thứ nhân quyền; độc lập dân tộc là quyền cơ bản nhất của mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân. Bởi không có độc lập dân tộc thì cũng không có gì hết, vì nếu không có giải phóng dân tộc, thì sẽ không có giải phóng con người. Làm gì có nhân quyền và dân quyền trong một xã hội nô lệ !
Hai là: Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục vận động đồng bàô nói chung đồng bào theo đạo nói riêng thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, đẩy lùi các hiện tượng mê tín hủ tục, các hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Kiên quyết phê phán những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng tự do tín ngưỡng để kích động và hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, chia rẽ đoàn kết Lương - Giáo, xâm phạm lợi ích chung của đất nước, của toàn dân tộc. Nhà nước ta không chống tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là bất khả xâm phạm mà Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta long trọng xác nhận. Nhưng mê tín dị đoan không phải là tôn giáo và ngay cả những tôn giáo chính thống cũng không bao giờ thừa nhận mê tín dị đoan. Đồng bào có đạo và các chức sắc tôn giáo là một bộ phận trong cộng đồng dân tộc, là những công dân Việt Nam nên phải có nghĩa vụ và trách nhiệm công dân theo quy định của Hiến pháp, pháp luật. Việc sinh hoạt tôn giáo không được cản trở hoặc làm trái với việc thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm công dân theo quy định. Động viên đồng bào có đạo sống: “tốt đời, đẹp đạo”, phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá, đạo đức của tôn giáo là nhằm tăng cường sự tham gia của quần chúng nhân dân có đạo vào việc xây dựng xã hội mới. Đó là sự kết hợp hài hoà giữa đạo và đời, vừa tròn trách nhiệm với đạo, vừa làm tròn trách nhiệm phụng sự Tổ quốc. Như vậy, tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm, mà tự do đích thực là phải làm đúng theo cái tất yếu, tức là những điều đã được luật pháp qui định.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với một điều kiện tiên quyết là mọi hoạt động tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Nhà nước, không được lợi dụng tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước. Nhà nước nghiêm cấm tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, ép buộc người dân theo đạo. Từ ngữ tôn giáo luôn luôn hàm ý về một thế giới bên kia, chứ không phải là thế giới hiện thực. Đem những điều tôn giáo rao giảng áp dụng vào những lĩnh vực khoa học, văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội,…, là lợi dụng tôn giáo cho những ý đồ khác.
Trong vô vàn cách thức lợi dụng tôn giáo phá hoại chính sách đoàn kết, có vấn đề phá hoại truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân mà toàn dân tộc ta đang ra sức gìn giữ và phát huy.Chính phủ ta đã chính thức bác bỏ những luận điệu sai trái của nước ngoài vu cáo, xuyên tạc Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta có đầy đủ những yếu tố mà Công ước quốc tế yêu cầu hoặc giới hạn, mà cốt lõi là xây dựng nhà nước thế tục cùng những đặc trưng cơ bản của nó.
 Trong hoạt động tôn giáo, tích cực đấu tranh với những hoạt động mê tín dị đoan, lợi dụng mê tín để trục lợi. Đồng thời thực hiện tốt quan điểm: Nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia. Các vụ gây rối mang tính chất bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên, hoạt động công khai chống phá cách mạng của Nguyễn Văn Lý, Lê Quang Liêm và một số người khác là những hoạt động vi phạm trắng trợn luật pháp nước ta, cần được xử lý theo pháp luật.
Ba là: Mở rộng và phát huy dân chủ thực sự ở cơ sở; chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào, đặc biệt là đồng bào ở vùng xa vùng sâu, vùng đồng bào theo đạo; đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo; giải quyết thấu tình đạt lý những nhu cầu chính đáng và những tranh chấp của đồng bào liên quan đến tôn giáo đặc biệt là tranh chấp đất đai; làm tốt công tác định canh định cư; công tác kế hoạch hoá gia đình, giúp nhau làm kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng ở các khu dân cư có đồng bào theo đạo. chính sách và các việc làm cụ thể để xây dựng khối đoàn kết tôn giáo. Việc xây dựng xã hội mới, chăm lo phát triển kinh tế - văn hoá, nâng cao đời sống nhân dân chính là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rằng, nếu để một người Việt Nam còn đói rét thì đó là lỗi của Đảng. Đảng và Nhà nước không phân biệt đối xử mà còn quan tâm chăm lo đến sự phát triển mọi mặt của các vùng có đồng bào theo tôn giáo.
 Quyền tự do tư tưởng có nghĩa rộng hơn, nhưng quyền tự do tín ngưỡng lại sâu hơn và quyền tự do tôn giáo lại mang tính thực tiễn cụ thể hơn. Những khái niệm về tín ngưỡng, tôn giáo tuy có quan hệ đan xen, gắn bó với nhau, nhưng bản chất thì tín ngưỡng thuộc về ý thức, tâm lý, tình cảm, còn tôn giáo thuộc về hoạt động, tổ chức, cơ sở. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải được thể chế hóa bằng những qui định cụ thể về hoạt động, tổ chức, cơ sở.
Bốn là, thật sự tôn trọng tự do tín ngưỡng. Bài học tổng hợp (cả thành công và thất bại) rút ra từ lịch sử dân tộc Việt Nam là không thể phủ nhận nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, không thể đại đoàn kết toàn dân tộc được nếu không biết tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Tôn giáo không theo phương pháp luận khoa học thực nghiệm mà đặt vấn đề Mạc khải chân lý do Đấng thiêng liêng tự biểu lộ ra trước loài người. Tin theo hay không tin theo tôn giáo là quyền tự do của từng công dân, pháp luật Nhà nước ta không ép buộc về một phía nào.
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước công bố ngày 29-6-2004 nêu rõ: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng tôn giáo. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo…
Công dân theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo, đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện mọi nghĩa vụ công dân.
Các hoạt động tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ; mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân, làm hại đến nền văn hóa lành mạnh của dân tộc và hoạt động mê tín dị đoan đều bị xử lý theo pháp luật (Nghị định Số 26/1999/NĐ-CP, ngày 19-4-1999 của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
        Hiện nay Nhà nước ta đã có những văn bản pháp luật quy định quyền tự do tín ngưỡng và các hoạt động tôn giáo. Nghị định 26 của Chính phủ cùng các thông tư hướng dẫn của Ban tôn giáo chính phủ đã góp phần quan trọng vào việc tổ chức và duy trì hoạt động tôn giáo bình thường đúng pháp luật. Tuy nhiên trong nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, việc cụ thể hoá các văn bản pháp luật, việc phổ biến, tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế. Có hiện tượng không nắm chắc luật pháp, có hành vi vi phạm đối với hoạt động tôn giáo hoặc buông lỏng, né tránh trước những hoạt động truyền đạo trái phép, những hành vi lợi dụng tôn giáo làm trái pháp luật. Hoàn thiện luật pháp về tín ngưỡng tôn giáo, sớm nghiên cứu ban hành luật tôn giáo đi liền với quá trình tổ chức, triển khai cụ thể đang là một yêu cầu thực tiễn của nước ta hiện nay.
Năm là: Củng cố và phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức vận động đồng bào theo đạo. Phát huy vai trò của các chức sắc tôn giáo tiến bộ, các hạt nhân nòng cốt, kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng kỳ thị tôn giáo, Chúng ta cần tiếp cận tôn giáo dưới nhiều góc độ mang tính toàn diện với tính cách là triết học, văn hoá. đi vào khai thác mặt tích cực đạo đức của tôn giáo. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Chúa Giêxu dạy: đạo đức là bác ái. Phật thích ca dạy: đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: đạo đức là nhân nghĩa. Tôn giáo cũng có mặt tích cực của nó, chứ tôn giáo không phải là thứ hoàn toàn “độc hại”, xấu xa, tiêu cực...Do đó không bao giờ xúc phạm đến đức tin tôn giáo, lên án khía cạnh chính trị của tôn giáo, nhưng lại rất trân trọng những những giá trị văn hoá, yếu tố tích cực về đạo đức và những khía cạnh nhân văn, niềm tin vào con người của tôn giáo.
Trong lịch sử, vấn đề tôn giáo trong lịch sử dân tộc Việt Nam chỉ thấy xuất hiện từ khi Ki tô giáo được các nước Tây phương du nhập vào Việt Nam. Nếu tính từ năm 1533 là năm có giáo sĩ Tây phương đến truyền đạo ở Việt Nam, đó là thời kỳ nước Việt Nam bị chìm đắm trong chiến chinh loạn lạc vô cùng đau khổ. Nhà Hậu Lê thống nhất đất nước được một thế kỷ (1428-1527), thì bị nhà Mạc cướp ngôi. Nhưng nhà Mạc cũng không yên vị được bao lâu. Đất nước chia hai (phía Bắc thuộc nhà Mạc; phía Nam kể từ Thanh Hóa thuộc nhà Lê Trung hưng) từ năm 1527 đến năm 1597; sau ba năm tái thống nhất (1597-1600), đất nước lại chia ba (Mạc ở Cao Bằng cho đến năm 1667, Trịnh ở Bắc, Nguyễn ở Nam với ranh giới là sông Gianh), kéo dài cho đến năm 1787 mới chuyển sang thời kỳ Tây Sơn, đến năm 1802 là nhà Nguyễn (Gia Long).
Ban đầu, các vua chúa ở cả ba triều lúc ấy, đều cho truyền đạo tương đối tự do với một ý đồ chung là muốn nhờ các giáo sĩ để có thêm đại bác cho quân đội lúc bấy giờ chỉ trang bị chủ yếu bằng gươm giáo. Tuy nhiên, suốt thế kỷ XVI, các giáo sĩ phương Tây không thu được kết quả gì khả quan. Mãi cho đến khi việc truyền giáo được chuyển qua tay dòng Tên, thì số người chịu phép rửa mới đông lên.
Lịch sử Việt Nam có ghi lại những cuộc đàn áp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Trong các cuộc đàn áp, vua chúa Việt Nam ra lệnh trục xuất các thừa sai nước ngoài và trừng phạt giáo dân, nặng nhẹ còn tùy từng nơi, từng lúc.
Trong các cuộc cấm đạo vào thế kỷ XVII, XVIII, có lẽ cuộc cấm đạo đẫm máu dưới thời Tây Sơn năm 1798 phải nói 1à đáng kể nhất khi vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn bắt được một bức thư của Nguyễn Ánh (về sau 1à vua Gia Long) gửi Giám mục Labarlette, xin Giám mục tổ chức một đạo quân gồm toàn những tín đồ Kitô giáo tại chỗ giúp cho quân Pháp đánh từ bên ngoài vào.Nhưng các cuộc cấm đạo gay gắt nhất lại nổ ra dưới triều Nguyễn (1802-1884), kể từ vua Gia Long, người đã nhờ Giám mục Bá Đa Lộc cho đến các vua Minh Mạng, Tự Đức trị vì trong thời kỳ các thế lực đế quốc nước ngoài đang tìm cách xâm chiếm nước ta làm thuộc địa. Sau đó là 80 năm đô hộ của thực dân Pháp mà Công giáo giữ địa vị chủ đạo với tất cả đặc quyền đặc lợi vô cùng to lớn. Đây là bài học thất bại trong chính sách đàn áp tôn giáo. Vì vậy, hiện nay cần xác định đúng trọng tâm, trọng điểm công tác tôn giáo - đó là công tác Công giáo, lấy đó là yếu tố quan trọng để thực hiện đoàn kết tôn giáo.








1 H Ch Minh, Toàn tp, Sđd, tp 4, tr.9.
2 H Ch Minh. Toàn tp, Sđd, tp 7, tr.197.
3 Văn kin Hi ngh ln th 7 Ban Chp hành Trung ương Đảng khoá IX, NXB Chính tr Quc gia, Hà Ni, 2003, trang 48.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét