“Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không
cần có tự vệ”
Đầu tháng 5-2015, Đài BBC tiếng Việt và Đài RFA đều
dẫn đăng một bài viết bịa đặt trắng trợn nhiều chi tiết lịch sử, viện dẫn những
ý kiến của nhiều thành phần bất hảo, phản động, rồi hồ đồ “kết luận”: Chính tư
tưởng về “bạo lực cách mạng”, nhất là quan điểm “bạo lực cách mạng triệt để” và
“niềm say sưa bạo lực” của Hồ Chí Minh đã tạo nên đội quân cộng sản hiếu chiến,
kích động chiến tranh và tạo ra sự hy sinh không cần thiết trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược…
Cần khẳng định rằng, đó là những luận điệu bịa đặt
trắng trợn, không chỉ ảnh hưởng đến giá trị tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh mà
còn xúc phạm đến danh dự, tình cảm của con người và dân tộc Việt Nam. Lịch sử
nhân loại ghi nhận Hồ Chí Minh là nhà văn hóa lớn, sứ giả của hòa bình và tình
hữu nghị, lãnh tụ của cách mạng Việt Nam, người cha già muôn vàn kính yêu của
các dân tộc Việt Nam. Nhân loại cũng ghi nhận Hồ Chí Minh là nhà quân sự thiên
tài với những tư tưởng cách mạng, tư tưởng quân sự mang tầm thời đại. Chính
Người đã kế tục, phát triển những nội hàm về “bạo lực cách mạng” sát với thực
tiễn cách mạng Việt Nam, biến nó trở thành kim chỉ nam cho hoạt động đấu tranh
giải phóng dân tộc, giúp quân và dân ta đi hết thắng lợi này, đến thắng lợi
khác, đánh đuổi giặc ngoại xâm, mang lại hòa bình cho dân tộc và thúc đẩy hòa
bình thế giới. Đó là những tư tưởng quân sự mang tính nhân văn, nhân đạo sâu
sắc.
Do yêu cầu cách mạng, đặc biệt là do phong cách giản dị của Hồ Chủ tịch, nên Người không đề tên một bài nói, bài viết nào của mình bàn về chủ nghĩa nhân văn nói chung, hay tư tưởng nhân văn quân sự nói riêng. Nhưng chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã toát ra từ toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng, tư tưởng và sự nghiệp mà Người đã tạo dựng. Thực tiễn cho thấy, mọi nhận thức và hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực quân sự của Hồ Chí Minh đều toát lên những giá trị nhân văn cao cả, không chỉ chúng ta mà những người từng là đối tượng tác chiến ở bên kia chiến tuyến cũng phải thừa nhận. Đó là cơ sở vững chắc phủ nhận luận điệu cho rằng, “Hồ Chí Minh là người đam mê, say sưa bạo lực, đã gây nên sự hy sinh không cần thiết trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ”...
Đối với Hồ Chí Minh, việc phải tiến hành vũ trang là
để tự vệ, bảo vệ chính dân tộc, nhân dân mình trước sự tấn công của các đội
quân xâm lược mà lại là các đội quân có quân số đông, được trang bị vũ khí đầy
đủ, hiện đại hơn, được huấn luyện chu đáo, chuyên nghiệp. Cuộc chiến tranh mà
chúng ta buộc phải tiến hành là “chiến tranh chính nghĩa”, “chiến tranh tự vệ”;
chiến tranh là giải pháp cuối cùng, còn một phút có thể tranh thủ, hy vọng đẩy
lùi chiến tranh vẫn cứ tận dụng. Đây là điều mà Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng
định trước toàn thế giới và được nhân loại có lương tri ủng hộ, giúp đỡ rất to
lớn, có hiệu quả. Như vậy, việc dụng binh là việc nhân nghĩa, trừ ác diệt tà để
cứu nước, cứu dân theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoàn toàn trái ngược với
tư tưởng sùng bái, đam mê bạo lực.
Như chúng ta đã biết, sau Cách mạng Tháng Tám chưa đầy
một tháng, với âm mưu cướp nước ta một lần nữa, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp
tiếp tục nổ súng, gây hấn ở Nam Bộ, buộc nhân dân ta phải bước vào cuộc chiến
tranh tự vệ mới. Trong bài nói chuyện tại Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh
(7-1-1946), Người giải thích: “Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự
vệ. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình.
Ta phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp”. Như vậy, vũ trang tự vệ theo tư tưởng của
Người hoàn toàn đối lập với vũ trang xâm lược của các lực lượng hiếu chiến với
mưu đồ nô dịch, thống trị dân tộc khác. Vũ trang tự vệ là hoạt động quân sự
chính nghĩa của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, không bao giờ muốn chiến
tranh. Do vậy, nó được sử dụng để giành và bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ
tính mạng, tài sản của nhân dân trước sự xâm lược của ngoại bang, nên nó thể
hiện rõ tính chất nhân văn, nhân đạo. Bởi vậy, khi thực dân Pháp lộ rõ mưu đồ
cướp nước ta một lần nữa, Hồ Chí Minh đã vạch rõ: “Là nạn nhân của một cuộc xâm
lược có chủ định từ trước, chúng tôi buộc phải tự vệ chống lại một đối phương
đang thực hiện phương pháp của một cuộc chiến tranh tổng lực, như những cuộc
bắn phá dã man làng mạc và dân thường” (1).
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt
Nam là cuộc chiến tranh tự vệ bắt buộc để bảo vệ chính quyền non trẻ, bảo vệ
quyền tự quyết dân tộc, bảo vệ danh dự và nhân phẩm của một dân tộc. Tuy nhiên,
cuộc chiến tranh đó chỉ để đánh bại ý chí xâm lược của một số kẻ hiếu chiến.
Theo Hồ Chí Minh, “Nhân dân Việt Nam đã bị chính sách vũ lực, chính sách xâm
lăng của một vài người đại diện Pháp ở Đông Dương xô đẩy vào một cuộc chiến
tranh tự vệ thảm khốc” (2) và “Chính sách vũ lực mà các nhà đại diện Pháp ở
Đông Dương vẫn áp dụng từ trước tới nay, đã buộc dân tộc Việt Nam phải võ trang
tự vệ” (3). Người viết: “… Chúng tôi không muốn chiến tranh, nhưng chúng tôi
quyết tự vệ đến giọt máu cuối cùng. Chúng tôi quyết không chịu mất nước làm nô
lệ thực dân lần nữa. Mong Chính phủ, Nghị viện và nhân dân Pháp hiểu cho. Mong
các nước dân chủ trên thế giới hiểu cho” (4). Với tinh thần tự vệ và ý chí tự
lực, tự cường cao cả, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân
dân ta đã làm nên chiến thắng ngày 7-5-1954 lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa
cầu.
Cuộc chiến tranh tự vệ chống đế quốc Mỹ mà nhân dân
Việt Nam tiến hành, chẳng những có giá trị nhân văn, nhân đạo đối với dân tộc
Việt Nam, mà còn đối với khu vực và thế giới. Người chỉ rõ: “Nhân dân Việt Nam
chúng tôi phải kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược để tự vệ, để bảo
vệ những quyền dân tộc thiêng liêng nhất của mình, đồng thời góp phần giữ gìn
hòa bình ở châu Á và thế giới” (5). Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập,
tự do”, cuộc chiến tranh tự vệ của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn,
đúng như dự báo của Hồ Chí Minh là: “Đế quốc Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến
tranh xâm lược tàn bạo nhất trong lịch sử chống nhân dân Việt Nam. Sử dụng
quyền tự vệ thiêng liêng của mình, toàn thể nhân dân Việt Nam đã kiên quyết
chống lại để bảo vệ độc lập, tự do và đã liên tiếp giành được những thắng lợi
to lớn và nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng” (6).
Phương thức đấu tranh cuối cùng
Suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn hướng tới một nền hòa bình cho dân tộc Việt Nam và xây dựng
tình hữu nghị với nhân dân Pháp, Mỹ. Bằng rất nhiều sách lược khôn khéo, kể cả
nhân nhượng cần thiết, Hồ Chí Minh muốn tránh cuộc chiến tranh Pháp - Việt lần
thứ hai (1945-1954) và cuộc chiến tranh Việt - Mỹ (1954-1975), nhưng đều bị đối
phương cự tuyệt. Nhân dân Việt Nam buộc phải kháng chiến chống đế quốc Pháp và
đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến, Hồ Chí
Minh vẫn kiên trì theo đuổi khả năng hòa bình, sớm kết thúc chiến tranh. Người
đã nhiều lần viết thư bày tỏ lập trường hòa bình, hữu nghị của dân tộc Việt
Nam. Trong thư gửi Tổng thống Pháp (18-1-1947), Hồ Chí Minh viết: “Tôi xin nói
để ngài rõ là dân tộc Việt Nam chỉ mong được độc lập và thống nhất trong khối Liên
hiệp Pháp. Tôi rất đau lòng trông thấy những người đáng lẽ là bạn bè anh em với
nhau, mà nay phải tàn sát lẫn nhau. Chúng ta có thể và chúng ta phải đi tới hòa
bình để cứu sống cho bao thanh niên Pháp-Việt” (7). Đây là tư tưởng, quan điểm
hết sức nhân văn, nhân đạo của Người, cũng vì sự nhân văn, nhân đạo cao cả để
cứu toàn thể dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ. Hồ Chí Minh đã tỏ rõ lập trường
và lòng tin vào thắng lợi của mình: “Chúng tôi muốn hòa bình. Chúng tôi muốn
nước chúng tôi độc lập và thống nhất... Bọn quân phiệt thực dân đã bắt buộc
chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, chúng tôi
lấy câu châm ngôn hiên ngang của các bạn làm châm ngôn của chúng tôi: “Thà chết
không làm nô lệ”. Chúng tôi chiến đấu vì công lý. Chúng tôi sẽ tồn tại; chúng
tôi sẽ chiến thắng” (8).
Khi Mỹ thay chân Pháp trực tiếp dấn sâu vào cuộc chiến
tranh xâm lược Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nói thẳng với Tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi
rằng: “Việt Nam xa cách Hoa Kỳ hàng vạn dặm. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Hoa
Kỳ không thù oán gì nhau. Ông có lý do gì mà gây nên cuộc chiến tranh xâm lược
ở miền Nam Việt Nam, hoang phí hàng tỷ đô-la của nhân dân Hoa Kỳ để ủng hộ một
chính quyền thối nát độc tài… Ông có quyền gì mà bắt buộc hàng vạn thanh niên
con em người Hoa Kỳ sang giết hại người miền Nam Việt Nam vô tội rồi họ cũng bị
chết trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, bẩn thỉu ấy?” (9). Trả lời phóng viên
của tuần báo Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Cho tới khi hàng vạn người đã bị
giết hại một cách tàn nhẫn và hàng chục vạn người khác bị giam cầm chết dần
chết mòn trong các nhà tù và trại tập trung của bọn Ngô Đình Diệm, đồng bào
chúng tôi ở miền Nam mới thấy không có con đường nào khác, ngoài con đường
chiến đấu để bảo vệ đời sống của mình và gia đình mình. Họ đau đớn phải lựa
chọn giữa hai con đường, hoặc là cầm vũ khí chiến đấu hoặc là bị tiêu diệt”
(10).
Trong tình thế bất đắc dĩ buộc phải sử dụng đến sức
mạnh quân sự thì tư tưởng chủ đạo của Hồ Chí Minh là phải giảm tối đa sự đổ máu
không chỉ của quân dân ta mà ngay cả kẻ địch. Hồ Chí Minh đã thể hiện đầy đủ
lòng nhân ái, khoan dung của một người cộng sản, một người yêu nước chân chính,
một lãnh tụ cách mạng có tầm nhìn xa ngay từ việc xác định kẻ thù. Hồ Chí Minh
hướng cuộc đấu tranh của nhân dân ta vào kẻ thù phản động nguy hiểm nhất. Trong
quá trình tiến tới và nổ ra cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí
Minh cùng với Đảng lãnh đạo nhân dân tập trung đánh vào những tên phản động đầu
sỏ, cô lập và trung lập quân Nhật, để vua Bảo Đại thoái vị, không gây nên cảnh
"nồi da xáo thịt", giảm bớt những hận thù. Trong cuộc trường kỳ kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai (1945-1954), Hồ Chí Minh
đã phân biệt rất rõ thực dân phản động Pháp với chủ nghĩa thực dân nói chung,
tập trung đánh vào bọn phản động.
Tính nhân văn, nhân đạo của Hồ Chí Minh trong phương
thức, hình thức đấu tranh “bạo lực cách mạng” đã làm cho tập đoàn cầm quyền
hiếu chiến của nước Mỹ bị cô lập đến cao độ. Họ không chỉ bị đồng minh lảng
tránh mà còn bị nhân dân Mỹ phản đối gay gắt trong cuộc chiến tranh xâm lược
Việt Nam. Bọn phản động, tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam thực tế đã không có
chỗ đứng trong nhân dân, bị tiến công liên tục và cuối cùng bị sụp đổ.
XUÂN BỘ VÀ TẤN TUÂN
Bài 2: Yêu thương, khoan dung, cảm hóa con người để muôn
đời tắt lửa chiến tranh
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 522.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.14.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.41- 42.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.138.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 14, tr.661.
(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.492.
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.36.
(8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.155.
(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.494 - 495.
(10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 11, tr.114-115.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét