Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

KHÔNG THỂ “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI”
                                                                           ThS Phùng Văn Lập

Phi chính  trị hóa quân đội” là cụm từ được một số người không thiện cảm với sự nghiệp xây dựng, củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay ngớt lời tán dương, “góp ý”. Đây là quan điểm không mới, bởi mục đích của nó không gì khác hơn là phủ nhận tính giai cấp, để Quân đội “Trung lập”,  tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, phát triển theo hướng “Quân đội nhà nghề”. Lý giải sự sai trái, phản động của luận điệu này cũng đã được nhiều nhà khoa học, những người có chính kiến đúng đắn phân tích, chứng minh bằng lý luận và thực tiễn sâu sắc. Tuy nhiên cũng cần có nhận thức đúng đắn hơn với góc nhìn từ lịch sử đánh giặc cứu nước, giữ nước, xây dưng lực lượng vũ trang, quân đội của cha ông ta để có thêm những cứ liệu chứng minh.
          Lịch sử đánh giặc cứu nước, giữ nước, xây dựng lực lượng vũ trang, quân đội của dân tộc ta là kho tàng đồ sộ, nhiều giá trị cần được nghiên cứu thấu đáo, và bài viêt này cũng chỉ đề câp đến một số một số sự kiện, nội dung rất gần gũi, nhiều người đã biết.  
          1. Kế thừa những kinh nghiệm tổ chức quân đội của thời Đinh- Lê, trên nền tảng tư tưởng “Ngụ binh ư nông” (Gửi quân lính ở nông thôn), một phương thức xây dựng quân đội chưa từng có trong lịch sử các nước phương Đông và phương Tây[1], khi họ thường đối lập quân quyền với thân phận của người nông dân; làm cho “Việc binh” vốn là “Đại sự quốc gia” trở thành hoạt động của nông dân, nông thôn, nông nghệp. Theo đó, Triều đình Nhà Lý (Thế kỷ 11, 12) đã quy định và thi hành chế độ tuyển mộ quân lính. Hàng năm, dân đinh được kiểm kê trong cả nước. Thời bình, nhà nước chọn những dân đinh khỏe mạnh (Tráng đinh) sung vào quân đội. Khi có chiến tranh, nhà nước chiếu theo sổ quân, gọi những dân đinh đã đăng ký tòng quân, lấy nhiều hay ít tùy theo tình hình chiến cuộc. Nhà nước quy định và thi hành chế độ: Thời bình, trừ quân thường trực (Cấm quân), còn phương quân và du quân được chia thành từng phiên, theo định kỳ được trở về sản xuất. Khi có chiến tranh, tất cả đều được nhập ngũ. Nhờ đó mà chủ trương “Bách tính giai binh’ (Trăm họ là binh) có cơ sở thành hiện thực. Nhà Lý đã kết hợp được kinh tế với quân sự, giữa xây dựng quân đội với bảo đảm lực lượng sản xuất, làm cho đất nước ở đỉnh cao ngàn trượng, quân đội lớn mạnh đủ sức đè bẹp quân thù, đánh tan quân Tống xâm lược, giữ vững chủ quyền dân tộc.  
          Trước sự uy hiếp và thực hành xâm lược nước ta của đế chế Mông Cổ, đế chế Mông- Nguyên, một thế lực có quân đội đông, thiện chiến, từng chinh phục nhiều dân tộc từ Châu Á đến Châu Âu, đòi hỏi dân tộc ta và lực lượng vũ trang quốc gia của nước Đại Việt phải có tư duy, phương pháp luận quân sự tiến bộ vượt bậc để chỉ đạo kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang. Nhà trần chú trọng thực hiện quan điểm quân đội gắn bó với nhân dân và chính quyền: Binh đi đến đâu thì người cày không bỏ ruộng, người buôn không bỏ hàng, sĩ đại phu không bỏ chức[2], tiếp tục phát triển quan điểm “Ngụ binh ư nông” tìm sức mạnh ở trong nhân dân, thực hành “Cử quốc nghênh địch” (Cả nước đánh giặc), xây dựng quân đội theo  quan điểm “Phụ tử chi binh”, “Quân cốt tinh không cốt nhiều”…; đề cao quan điểm chỉ đạo tác chiến “Lấy đoản binh chế trường trận”, lấy mềm chống cứng, tránh lúc ban mai, đánh lúc chiều tà…Triều đình đã tổ chức lực lượng vũ trang nhiều thứ quân (Quân triều đình, quân vương hầu, quân các lộ, hương binh, thổ binh các làng bản). Kết hợp giữa hoạt động quân sự với kế “Tiểu dân làm thanh dã” (Vườn không nhà trống), tạo nên sức mạnh của sự gắn bó giữa triều đình, quân đội và dân chúng đến mức “Quốc gia tính lực” (Sức nước và sức nhà gắn bó làm một). Chính vì vậy quân dân Nhà Trần đã phá được chiến lược đánh nhanh của quân địch mạnh, thực hiện rút lui chiến lược, tích cực tạo được thế trận và thời cơ phản công chiến lược của quân đội, ba lần đập tan đạo quân đông, thiện chiến Nguyên – Mông (1258, 1285, 1288). Khi nói về nguyên nhân thắng lợi, Trần Hưng Đạo đã tổng kết “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, nước nhà chung sức”. Điều ấy có nghĩa, chiến thắng quân Nguyên – Mông  là chiến thắng chung của dân tộc. Sức mạnh của lực lượng vũ trang, quân đội nằm trong sức mạnh dân tộc, dưới sự quy tụ, huy động của triều đình Nhà Trần.
          Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh (Thế kỷ 15), trên cơ sở lý luận và phương pháp luận quân sự dựa vào dân để phát triển lực lượng vũ trang (Giơ gậy làm cờ, tập hợp bốn phương mạnh lệ); tư tưởng quyết đánh địch, lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo, ứng xử đúng đắn với thời, thế: (Được thời có thế, thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn, mất thời không thế, thì mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy, sự thay đổi ấy chỉ trong trở bàn tay); chú trọng kết hợp tác chiến với địch vận (Ta dùng mưu để đánh, dùng lòng để tiến công, kẻ địch không đánh mà bị khuất phục - Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập). Xây dựng quân đội, và đặt quân đội dưới sự định hướng của tư tưởng nhân nghĩa, lấy dân làm gốc, trọng chiến thuật tâm công, có quan điểm biện chứng về chuyển hóa sức mạnh… đã làm nổi rõ vai trò của lực lượng thống soái điều hành chiến tranh giải phóng dân tộc (Sau chiến thắng là Triều đình Nhà Lê), của tư tưởng, luận điểm về chiến tranh đúng đăn, tiến bộ. Bởi vậy, quân dân ta đã lập nên kỳ tích trong lịch sử chiến tranh yêu nước, buộc quân Minh cam chịu thất bại, đầu hàng, rút quân về nước.
Nguyễn Huệ, người đầu tiên của nước ta gắn mục tiêu trực tiếp của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm (Mà cũng là của quân đội) với mục tiêu cơ bản bảo vệ nền văn hóa dân tộc khi tuyên bố xuất quân đánh quân Thanh: “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để răng đen”, trước khi “ Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. Đó là sự nhấn mạnh chủ trương khai thác, động viên, tập hợp sức mạnh của dân tộc, của quân đội từ tầng sâu của nền văn hóa dân tộc, khác với lối “Chiêu binh mãi mã” hấp dẫn bằng quyền lực và của cải. Nguyễn Huệ cũng là người nêu quan điểm: Người khéo thắng là ở chố rất mềm dẻo chứ không phải lấy mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít. Vì vậy, với quân đội Tây Sơn, chính trị (Với tuyên bố của Hoàng đế Quang Trung ) được diễn đạt, thẩm thấu trong mối liên hệ với văn hóa dân tộc. Quân đội đó đã luôn có tinh thần, khí thế chiến đấu rất cao, có đủ sức mạnh đại phá tan tành quân Thanh.
2. Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, Quân đội Nhà Hồ (1400-1407) được xây dựng với số lượng đông, vũ khí được cải tiến, tăng cường phòng thủ bằng thành cao, hào sâu. Nhưng do “Chính sự phiền hà”, nơm nớp lo sợ “Lòng dân không theo” từ thượng tầng vi mang tiếng cướp ngôi Nhà Trần và làm khổ trăm họ, không nêu cao được chính nghĩa, quân của nhà Hồ trăm vạn người, trăm vạn lòng, dẫn đến thất bại trước cuộc tiến công xâm lược Nhà Minh.
Đối với Nhà Nguyễn (Thể kỷ 19), trước dã tâm, hành động xâm lược của phương Tây, nhưng quân đội vẫn bị chi phối, bó hẹp bởi tư tưởng lạc hậu, bảo thủ về xây dựng lực lượng, phương thức tác chiến, vẫn chỉ dựa vào thành lũy để hy vọng tồn tại, không có cải tiến về trang bị. Khi bị tiến công, lực lượng vũ trang, quân đội bị phân tâm, chia rẽ, giảm sút ý chí chiến đấu bởi tư tưởng “Chủ chiến”, “Chủ hòa” trong triều đình, trong đó phe “Chủ hòa” đã thắng thế, đi theo con đường thỏa hiệp, đầu hàng. Quân đội Nhà Nguyễn đã thất bại trước sự tiến công của một nhóm quân Pháp.
3. Lược qua một số sự kiện xây dựng, chiến đấu, thắng lợi, thất bại của lực lượng vũ trang, quân đội trong lịch sử thời đại phong kiến, cho chúng ta nhận thức: Lực lượng vũ trang, quân đội luôn luôn gắn liền và chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi tư tưởng, ý thức hệ, triều đại của giai cấp phong kiến. Nếu giai cấp phong kiến, quý tộc cầm quyền có tư tưởng tiến bộ, giải quyết thỏa đáng và sâu sắc quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp thì sức mạnh của dân tộc, sức mạnh của lực lượng vũ trang, quân đội được phát huy, giành thắng lợi trong chiến tranh cứu nước, giữ nước và ngược lại thì chịu thất bại.
Sự chi phối của tư tưởng, ý thức hệ đối với lực lượng vũ trang, quân đội  trước hết là trong hàng ngũ lãnh đạo, điều hành chiến tranh, tướng lĩnh chỉ huy, được biểu hiện ở việc không chấp nhận khuynh hướng võ biền, quân sự thần túy ở họ. Trong Binh thư yếu lược, Hưng Đạo Vương đã viết: Người làm tướng không nên lấy cung đao cưỡi bắn làm tài mà phải lấy thông suốt cổ kim làm giỏi …Tướng trên biết thiên văn, dưới thông địa lý, giữa biết việc người đó là tướng chỉ huy được cả thiên hạ, không ai địch được; trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi yêu cầu các nhà lãnh đạo nghĩa quân: Thường nghiền kỹ các pho thao lược/Ngẫm nay suy trước, đã xét cùng mọi lẽ hưng vong. Còn đối với lực lượng vũ trang và quân đội nói chung thì được giáo dục, thấm nhuần bởi tư tưởng “Trung quân ái quốc’ của giai cấp phong kiến. Ngay trong Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, mặc dù là bản hùng văn có sức cổ vũ mạnh mẽ, nhưng cũng biểu lộ lời lẽ của thủ lĩnh quý tộc phong kiến nói với chư tướng về sự mất còn các lợi ích của tầng lớp quý tộc: “Các người ở lâu môn hạ nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo,không có ăn thì ta cho cơm, quan thấp thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa…Lúc bấy giờ (Nếu quân xâm lược thắng- TG) chủ tôi nhà ta cùng bị bắt…chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng về tay kẻ khác”; trong bài hịch hầu như không lập luận về lợi ích của dân, của quân lính; lòng tự hào dân tộc, khái niệm về quốc gia- dân tộc chưa được đặc biệt nhấn mạnh, khi nêu gương hy sinh và lòng trung thành chủ yếu là quan hệ vua tôi, chủ tớ và đều là những nhân vật trong lịch sử Trung Hoa.
Mặt khác, trong lịch sử dân tộc Việt Nam chưa từng xảy ra việc coi quân đội là công cụ quân sự thần túy. Mục đích chính trị các hoạt động của lực lượng vũ trang, quân đội được gói vào khái niệm chung là “Việc binh” chứ không tách mục đích ra khỏi thủ đoạn. giữa công cụ và lực lượng sử dụng công cụ. Mà “Việc binh ” lại là công việc quan trọng của các lực lượng lãnh đạo, của chính quyền. Qua đó, càng làm nổi bật mối quan hệ giữa lực lượng vũ trang, quân đội với chính trị, tư tưởng và triều đại của giai cấp phong kiến cầm quyền.
Mối quan hệ giữa tư tưởng, chính trị và quân đội, lực lượng vũ trang trong lịch sử dân tộc Việt Nam là vậy. Trong thời hiện đại, nó vẫn như thế, chừng nào trong xã hội còn giai cấp và nhà nước. Phù hợp với lịch sử, truyền thống dân tộc, Quân đội nhân dân Việt Nam phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam.

         




[1] Chính sách “Ngụ binh ư nông” sau đó mới được Nhà Tống nghiên cứu, áp dụng
[2] Trần Hưng Đạo, Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội 1977, T51

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét