LỰC
LƯỢNG VŨ TRANG
TRONG
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Khi bàn về phương pháp, hình thức giành chính quyền trong cách mạng tư
sản dân quyền (Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân), ngay từ những văn kiện dầu
tiên, Đảng ta đã xác định: Một cuộc khởi nghĩa vũ trang có khả năng nổ ra ở
Đông Dương; đó phải là một cuộc khởi nghĩa của quần chúng chứ không phải là một
cuộc nổi loạn; Đảng phải lãnh đạo nhân dân chuẩn bị tiến lên võ trang bạo động
để giành chính quyền và coi đó là một nghệ thuật, theo khuôn phép nhà binh.
Khởi nghĩa
vũ trang giành chính quyền là sự kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị và
lực lượng vũ trang; trong đó lực lượng chính trị là chủ yếu quyết định; lực
lượng vũ trang có vai trò quan trọng, không thể thiếu, thông qua các hoạt động
tích cực của mình, mà trước hết là thực hiện nhiệm vụ cổ động chính trị cho
cách mạng.
Trong Cách
mạng tháng Tám 1945, trên cơ sở lực lượng chính trị đông đảo của quần chúng,
lực lượng vũ trang đã từng bước được xây dựng, củng cố và phát triển nhanh
chóng, bắt đầu từ các đội du kích bí mật, các đội Cứu quốc quân, Việt Nam Tuyên
truyền Giải phóng quân và tiến lên thành lập Việt Nam Giải phóng quân(Tháng
5/1945) tại các chiến khu, căn cứ địa cách mạng như : Bắc Sơn – Vũ Nhai, Cao
Bằng. Giải phóng quân được huấn luyện thống nhất về quân sự và chính trị, công
tác Đảng, công tác chính trị được coi là linh hồn của quân đội cách mạng, trong
đó có ra báo Quân Giải phóng. Và đã tích cực hoạt động vũ trang tuyên truyền,
phát triển phong trào đấu tranh của quần chúng, chống địch khủng bố, trừ diệt
bọn Việt gian đầu sỏ, tay sai đắc lực khi không cảm hoá được chúng và khi quần
chúng có yêu cầu, với phương châm hoạt động là: Chính trị trọng hơn quân sự,
tuyên truyền trọng hơn tác chiến, kiên quyết không đánh nếu chỉ có lợi về quân
sự mà gây khó khăn cho cho cơ sở, kết hợp công tác vũ trang tuyên truyền trong
mọi hoạt động, tích cực tuyên truyền đường lối, chính sách của Mặt trận Việt
Minh, tăng cường lực lượng thâm nhập vào vùng địch kiểm soát, vận động quần
chúng tổ chức cơ sở chính trị và lực lượng tự vệ chiến đấu của địa phương, góp
phần đào tạo cốt cán cách mạng. Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, một hệ
thống cơ sở cách mạng rộng lớn bắt đầu từ Cao Bằng đã được hình thành, tạo bàn
đạp phát triển phong trào xuống phía Nam, nhằm đáp ứng nhiệm vụ cần kíp về phát
động quần chúng, tiến hành khởi nghĩa từng phần, tiến lên tổng khởi nghĩa.
Trong khởi
nghĩa từng phần, Việt Nam Giải phóng quân đã phối hợp với nhân dân nổi dậy giải
phóng hầng loạt châu, huyện, xã thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn,
Thái Nguyên, Tuyên Quang; Đội du kích Bắc Giang, Ba Tơ (Quảng Ngãi) đã cùng
nhân dân vùng lên khởi nghĩa chiếm đồn, thành lập chính quyền cách mạng, các
hội quần chúng. Tại nhiều nơi trong cả nước, lực lượng vũ trang cách mạng đã
tích cực hoạt động, thúc đẩy cao trào kháng Nhật, cứu nước; chủ động tiến hành
chiến tranh du kích, gìành chính quyền bộ phận, chống địch càn quét; thành lập,
bảo vệ và phát triển căn cứ địa và khu giải phóng, tạo bàn đạp để phát triển
lực lượng, khếch trương thắng lợi, chuẩn bị cùng toàn dân tíên lên giành chính
quyền trong cả nước. Lực lượng vũ trang đã đóng vai trò quan trọng trong thành
lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng, hỗ trợ cho Mặt trận Việt Minh thực thi 10 chính
sách lớn, bước đầu thực hiện nhiệm vụ của chính quyền dân chủ nhân dân ở Khu
giải phóng. Khu giải phóng là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới, hậu
phương của lực lượng vũ trang giải phóng; là ngọn cờ hiệu triệu, cổ vũ phong
trào cách mạng trong cả nước.
Trong tổng
khởi nghĩa, Đảng ta đề ra chủ trương, phương châm lãnh đạo: Tập trung lực lượng
vào những việc chính, thống nhất mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động
và chỉ huy, kịp thời hành động không bỏ lỡ cơ hội; phải đánh chiếm ngay những
nơi chắc thắng, không kể thành phố hay nông thôn, quân sự và chính trị phải
phối hợp, làm tan rã tinh thần quân địch, phải dụ chúng hàng trước khi đánh,
thành lập ngay các uỷ ban nhân dân ở những nơi giành chính quyền. Trên cơ sở đó, các lực lượng vũ trang cách mạng đã
triển khai thành công nhiều hoạt động trong tình thế khẩn cấp của những ngày
tháng Tám lịch sử.
Thực hiện
Quân lệnh số 1 của Uỷ ban khởi nghĩa, các lực lượng vũ trang đã chuyển thế tiến
công. Trong đó một đơn vị chủ lực của Việt Nam Giải phóng quân xuất phát từ Tân
Trào tiến đánh thị xã Thái Nguyên, một đô thị quan trọng án ngữ phía nam Việt
Bắc, một bàn đạp để tràn về trung châu Bắc Bộ, một vị trí yết hầu để đổ về Hà
Nội, điểm chốt mạnh để ngăn cản thế uy hiếp của Khu giải phóng của quân Nhật.
Cùng với tiến đánh Thái Nguyên, một bộ phận của Việt Nam Giải phóng quân đã chủ
động tiến đánh Tuyên Quang. Thắng lợi của các đòn quân sự quan trọng đó, đã
nhanh chóng tạo ra thanh thế, hiệu ứng mạnh mẽ cho cao trào đấu tranh chính
trị, khí thế vùng dậy ngút trời của quần chúng, trực tiếp làm rung chuyển và
lung lay ý chí của kẻ thù.
Tại các
địa phương trong cả nước, các lực lượng vũ trang đã đưa nhanh đường lối, chủ
trương chính trị và quân sự của Đảng; tình hình nhiệm vụ, cục diện cuộc đấu
tranh cách mạng tới các tầng lớp nhân dân; tích cực vạch mặt kẻ thù, khơi dậy
lòng yêu nước, ý chí độc lập, tự cường và niềm tin vào thắng lợi của cách mạng;
khẩn trương cùng toàn dân nhanh chóng khởi nghĩa giành chính quyền tại những
nơi đầu não của địch là Hà Nội và các trung tâm chính trị quan trọng khác, đập
tan sự phản kháng của kẻ địch ngoan cố, phản động. Cùng lực lượng đông đảo,
phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi của quần chúng tạo ra khí thế cách mạng
sục sôi, uy thế áp đảo quân thù, giành thắng lợi nhanh, gọn trong tổng khởi
nghĩa tháng Tám.
Như vậy,
trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam, tuy
còn non trẻ những đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là đội quân công tác của
Đảng, góp phần xây dựng nhân tố chính trị- tinh thần, động lực căn bản nhất của
đấu tranh chính trị, nhân tố chủ yếu quyết định trong Cách mạng tháng Tám.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, để phát huy tốt vai trò của lực lượng vũ trang
trong xây dựng, củng cố sức mạnh chính trị- tinh thần, theo chúng tôi, cần tập
trung giải quyết tốt một số vấn đề cơ bản sau đây:
Trước hết,
lực lượng vũ trang phải đi đầu trong nhận thức về phát huy nhân tố chính trị-
tinh thần. Phát huy được nhân tố chính trị - tinh thần, là giành được một trong
hai ưu thế cơ bản nhất của đấu tranh cách mạng, nhân tố có ý nghĩa quyết định
thắng lợi. V.I. Lênin từng chỉ rõ: Đứng về mặt trận tinh thần mà nói thì
chúng ta là những kẻ mạnh nhất, nên giai cấp vô sản chúng ta, yếu về số lượng,
kiệt quệ vì những nỗi thống khổ và thiếu thốn, đã thắng nhờ có sức mạnh tinh
thần của mình.
Tiềm lực chính trị - tinh thần là sự thống nhất biện chứng giữa các nhân
tố cơ bản là: Thái độ của các lực lượng xã hội, của toàn dân tộc, của giai cấp
lãnh đạo và sự vận động của mối quan hệ giữa các nhân tố đó trong đấu tranh
cách mạng. Nó được biểu hiện thành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách
của Nhà nước; tôn chỉ, mục đích chính trị của Mặt trận dân tộc thống nhất; mục
tiêu, lý tưởng chiến đấu và các phẩm chất tinh thần của nhân dân và các lực
lượng vũ trang, sự tin tưởng sắt đá vào sự lãnh đạo của Đảng, ý chí độc lập dân tộc, là lòng yêu nước, sẵn sàng
xả thân vì sự nghiệp cách mạng.
Để có tiềm lực chính trị - tinh thần đó; ngày nay, các lực lượng vũ
trang phải chủ động tham gia đấu tranh trên mặt trận chính trị- tư tưởng; thực
hiện tốt chức năng đội quân công tác,
tích cực góp phần củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; sự quản lý, tổ
chức và điều hành của Nhà nước và sự động viên của các tổ chức trong Mặt trận
Tổ quốc. Cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện tốt công tác giáo dục ý thức cách
mạng, mà trước hết là giáo dục mục đích của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, giáo dục mục tiêu lý tưởng các lực lượng vũ trang và nhân dân. V.I. Lênin
chỉ ra: Không bao giờ người ta có thể chiến thắng được một dân tộc mà đa số
công nhân và nhân dân đã biết, đã từng thấy…rằng họ bảo vệ một sự nghiệp mà khi
thắng lợi, sẽ đảm bảo cho họ có khả năng hưởng thụ mọi thành quả văn hoá, mọi
thành quả lao động của con người.
Các hoạt động thực tiễn, hoạt động vật chất, nhân tố xét đến cùng có ý
nghĩa quyết định đến hoạt động tinh thần. Vì vậy, trong xây dựng, củng cố và
phát huy nhân tố chính trị - tinh thần cần phải gắn liền với hiện thực cuộc
sống, trước hết là với thành tựu của công cuộc đổi mới; trách nhiệm của
lực lượng vũ trang là không ngừng nâng cao hiệu quả quá trình thực hiện nhiệm
vụ xây dựng lực lượng, huấn luyện, nâng cao sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn
sàng chiến đấu và chiến đấu; nhất là trong chuẩn bị tâm lý, tâm thế và khả năng chịu
đựng, thích ứng và vượt qua những khó khăn thử thách, sự chống phá quyết liệt
của các thế lực thù định; trong xử lý các vấn đề về quốc phòng- an ninh, ngoại
giao.
Nền tảng
quan trọng, có vai trò quyết định nhất đối với sức mạnh chính trị - tinh thần
là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, các lực lượng vũ trang cần tích cực
tham gia củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, với nòng cốt là liên minh công
- nông - trí thức; xây dựng lòng tự hào và tự tôn dân tộc thông qua phát huy
truyền thống bản chất, chức năng, nhiệm vụ của mình, chú trọng tham gia xây
dựng cơ sở chính trị vững mạnh, trước hết là hệ thống chính trị ở cơ sở; Góp phần cùng toàn dân thực hiện thành công
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhằm tạo ra động lực mới của các phong
trào cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét