TỰ HÀO VỀ CHA ÔNG
Dương
Đá, Dương xá, Gia Lâm, Hà Nội ngày nay, Làng Thạch Lỗi xưa, cũng như bao vùng
quê khác của vùng châu thổ sông Hồng, nơi quần tụ của những con người chăm chỉ
ruộng đồng, giàu tình thương yêu, kiên cường, bất khuất trong tham gia chống
ngoại xâm. Nơi sinh thành của Nguyên Phi Ỷ Lan, người phụ nữ đã hai lần nhiếp
chính dưới Triều Lý, có công lao to lớn trong trị nước, an dân, góp phần quan
trọng làm cho thế nước cường thịnh, đủ sức đánh tan cuộc xâm lăng của quân
Tống, quân Chiêm Thành, giữ yên bờ cõi. Tên tuổi của Bà gắn liền với nền văn
minh Lý Trần rực rỡ của dân tộc.
Dòng
họ Phùng văn của chúng tôi, tuy không phải lớn ở địa phương, nhưng sống trong
tình làng nghĩa xóm, truyền thống lao động, chiến đấu của vùng quê vốn là Phủ
Thận Thành, tình Bắc Ninh xưa, cũng đã có những đóng góp nhất định với mảnh đất
có lịch sử lâu đời này.
Trong
gia phả của dòng họ có ghi lại nhiều đóng góp với quê hương, dân tộc. Gần đấy
nhất là sự hưởng ứng phong trào Cần Vương, khởi nghĩa của Đề Thám (Cuối thế kỷ
19, đầu thế kỷ 20), các cụ Phùng Văn Ớt, Phùng Văn Giai đã lãnh đạo nghĩa binh
trong vùng dựng lũy chiến đấu chống ngoại xâm, kêu gọi, tổ chức nhân dân trong
vùng phản kháng, đấu tranh chống các chính sách đàn áp, bóc lột, thống trị của
đế quốc, tay sai. Dưới sự chỉ huy của các cụ, nghĩa binh của quê hương, với vũ
khí tuy có phần lạc hậu đã nhiều lần giáp chiến, làm cho quân thù khiếp sợ. Và
trong cuộc chiến đấu không cân sức ấy, nhiều thanh niên ưu tú của quê hương đã
ngã xuống, máu đào của họ nhộm thắm tinh thần bất khuất chống kẻ thù.
Để
tưởng nhớ họ, gắn với tâm linh, nhân dân trong vùng, đã đặt cho nơi những nghĩa
binh đã ngã xuống là “Xóm Mãnh”, xóm của những linh hồn chết trẻ cho quê hương,
đất nước. Hiện nay trong vườn của cụ chúng tôi vẫn có ngôi miếu nhỏ để thờ
cúng, ghi nhớ công lao của họ.
Lịch
sử địa phương đã ghi nhận, tôn vinh các nghĩa binh trong cuộc khỏi nghĩa Tam
Dương (Ba thôn Dương: Dương Đá, Dương Đình, Dương Đanh) chống Pháp, tay sai.
Tuy
nhiên, do những hạn chế của lịch sử, cuộc chiến đấu ấy đã không thành công. Mặc
dù vậy, hòng dập tắt ngọn lửa kiên cường, anh dũng, gan dạ chống ngoại xâm, và
cũng để khống chế, quản thúc, Nhà nước bảo hộ của Pháp, của tay sai bán nước
sau khi cưỡng ép thu một số lớn gia sản, ruộng đất của các cụ nhà tôi để sáp
nhập vào đồn điền Mác Ti, đôn điền trồng lúa lớn nhất vùng Nam Đuống lúc bấy
giờ, đã chỉ định, ép buộc các cụ các giữ chức Chánh tổng, Hương lý cai quản
trong vùng, trong tổng (Đó là Tổng Ớt, Hương Giai)
Là
những con người kiên trung, hiểu kinh dịch, nhất là phải kiên trì chờ thời sau
thất bại, các cụ tuy làm cho chính quyền của địch, những vẫn nung nấu tinh thần
đấu tranh, chống đế quốc, tay sai.
Sau
khi cụ Tổng Ớt mất, cụ Hương Giai (tức cụ Phùng Văn Giai) vẫn một lòng, một dạ
tìm cách chống giặc khi có thời cơ..
Cho
tới khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, khi hoạt động bí mật, cụ Phùng
Văn Giai đã tận dụng uy tín, chức dịch trong vùng để liên lạc, nuôi giấu cán bộ
cách mạng. Cho tới những năm 30 của thế kỷ trước, nơi đây đã trở thành cơ sở
cách mạng của Trung ương, Xứ ủy Bắc Kỳ, nơi hoạt động của các đồng chí Trường
Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Đào Duy Kỳ và nhiều cán bộ cách mạng chủ
chốt khác.
Hình
ảnh các ông giáo thanh cao vẫn in trong tâm trí của con cháu, nhân dân trong
vùng. Bây giờ những lớp người cao tuổi còn kể về họ với lòng kính trọng sâu
sắc, nhất là sau này khi biết họ chính là những cán bộ chủ chốt của Đảng.
Dù
có lúc bị địch đánh hơi thấy, vây ráp, từng bị tịch thu gia sản, ba lần đốt
nhà, trưng thu ruộng đất, nhưng các cụ vẫn tỏ rõ lòng trung, mưu trí, kiên
cường, một dạ bảo đảm an toàn cho cơ sở cách mạng.
Như
đã nói ở trên dòng họ Phùng Văn ở vùng Dương Xá không đông đúc lắm, chỉ có hai
nhánh của hai anh em ruột là Cụ Tổng Ớt và Cụ Hương Giai, quần tụ tập trung
trên một dải đất gần đình làng. Vì vậy, cụ Hương Giai đã bền bỉ giáo dục, giác
ngộ cho con cháu đào hầm bí mật, làm liên lạc, tận dụng, tạo lối thông với nhà anh
Tổng Ớt để xây dựng cơ sở cách mạng an toàn cho Xứ ủy Bắc Kỳ.
Do
hoạt động trong hoàn cảnh bí mật, nên khi hòa bình lập lại (1954), có một thời
kỳ dài gia đình không được ghi nhận công lao một cách đầy đủ, thậm chí trong
cải cách ruộng đất còn bị quy thành phần, phân tán tài sản.
Nhưng
với tấm lòng với cách mạng, gia đình đã không một lời oán trách, mà luôn chấp
hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Thời
gian trôi đi, nhưng tấm lòng trung trinh với cách mạng dần được làm sáng tỏ.
Năm 1979, gia đình được công nhận “Có công với nước”. Và hôm nay (ngày 24 tháng
5 năm 2014), Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội đã làm lễ khánh thành Nhà bia di
tích lịch sử cách mạng, kháng chiến tại chính nơi một trong những hầm bí mật
nuôi giấu cán bộ cách mạng.
Hôm
nay các cụ tuy không còn nữa, nhưng việc làm đó vẫn vô cùng ý nghĩa.
Đạo
Phật đã lấy hoa sen làm biểu tượng, trong đó có hàm ý: Dù phải vượt qua nhiều
hoàn cảnh, từ đầm lầy, vươn mình xòe lá xanh, thân gai đón nhận cuộc sống, rồi nghị
lực đơm hoa, kết nhụy vàng từ nguyên thủy đất tinh khôi (Màu vàng tượng trưng
cho thổ). Hương thơm từ nhụy mang tinh túy lẽ sống sâu xa, dù không còn hình nhưng vẫn còn sắc.
Để
có thành quả cách mạng hôm nay, không chỉ có dòng họ tôi, mà là thành quả chung
của tất cả các dòng họ trên Việt thân yêu, của tất thảy những con dân đất Việt
anh hùng, nhưng dẫu sao vẫn có một chút riêng tư.
Mấy
lời giản dị tri ân, tỏ lòng thành
Ngày 24/5/2014
Phùng Văn Lập
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét