Thứ Năm, 17 tháng 7, 2014

KIÊN ĐỊNH ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO THIÊNG LIÊNG

Khu vực Đông Nam Á, Châu Á – Thái Bình Dương, trong thời gian gần đây thu hút sự quan tâm của quốc tế, kể từ khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, gây hấn với lực lượng thực thi pháp luật, cản trở và có hành động vô nhân đạo với ngư dân của Việt Nam. Sự quan tâm của quốc tế xuất phát từ nhiều lý do, trong đó phải kể tới tầm quan trọng của Biển Đông về giao thương, vận tải hàng hải đối với thế giới, lo ngại trước tham vọng độc chiếm Biển Đông, trỗi dậy quyết đoán của Trung Quốc, đi ngược lại xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, thách thức luật pháp quốc tế, quy tắc ứng xử trên Biển Đông DOC; đặt dư luận quốc tế và Việt Nam trước vấn đề đấu tranh bảo vệ chính nghĩa, lẽ phải; phương thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng trong xu thế, diễn biến chung của thế giới, khu vực.
1. Châu Á- Thái Bình Dương là khu vực phát triển năng động, có nhiều triển vọng trong tương lai, nơi có các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nga, Nhật….Càng thôi thúc các nước tromg khu vực vươn lên khẳng định, khếch trương, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, nâng tầm ảnh hưởng. Tuy nhiên trong xu thế thế giới đa cực, toàn cầu hóa, việc xác định con dưởng, biện pháp thực hiện điều đó phải tính đến lợi ích, xu thế chung. Mặc dù Trung Quốc tuyên bố “Trỗi dậy trong hòa bình” nhưng những hành động trên biển Hoa Đông, nay thêm những hành động tại Biển Đông, càng cho thấy trên thực tế không hẳn như vậy, thậm chí lại càng bộc lộ tham vọng tiến ra, độc chiếm Biển Đông của họ, một nấc thang trong tiến trình khẳng định sức mạnh, tầm ảnh hưởng với thế giới. Đây là việc làm có tính toán, nhất quán trong chủ trương từ lãnh đạo cấp cao. Qua sự việc hạ đặt giàn khoan HD 981, làm cho người ta liên tưởng tới hành động dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (năm 1974), một số đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa (năm 1988), đó là những thời điểm nhạy cảm khi thế giới đang ở thời kỳ chiến tranh lạnh, đối đấu giữa hai hệ thống chế độ chính trị- xã hội, Việt Nam đang tập trung giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; hoặc khi Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc tàn khốc, đang bị bao vây, cấm vận ngặt nghèo, mới có những bước đi đầu tiên của công cuộc đổi mới đất nước; hay lợi dụng Việt Nam cần môi trường hòa bình, phát triển đất nước để tiếp tục lấn chiếm thêm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Lần này, Hạ đặt giàn khoan HD 981, người ta lại thấy Trung Quốc muốn tận dụng được sức mạnh đang nổi lên của mình, khi thế giới đang tập trung vào các điểm nóng, đang cần sự chia sẻ trách nhiệm của Trung Quốc trên trường quốc tế. Thế giới có thể suy luận rằng: Trung Quốc đã nhận định và tận dụng cơ hội này để hiện thực hóa yêu sách “Đường lưỡi bò” trên Biển Đông như đã từng lợi dụng cơ hội để đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa trước đó theo một lôgic rất đáng lo ngại cho hòa bình và công pháp quốc tế. Tận dụng thời cơ để khẳng định, vươn tầm ảnh hưởng trên trường quốc tế của Trung Quốc, không ai có thể ngăn cản, nhưng nó phương hại đến lợi ích, nhất là chủ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam là không thể chấp nhận được. Với vị trí địa chiến lược của Biển Đông càng không cho phép Trung Quốc đơn phương bất chấp luật pháp quốc tế, làm ảnh hưởng đến an ninh, tự do hàng hải, mà trước hết là những quốc gia, khu vực có lợi ích trực tiếp, gắn bó. Việc hạ đặt “Lãnh thổ di động” (Giàn khoan HD 981) trái phép tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam cùng với những hành động ngang ngược, vô nhân đạo, Trung Quốc đã tự làm xấu đi hình ảnh, cùng những tuyên bố “Trỗi dậy trong hòa bình”; làm tổn thương tình hữu nghị, hợp tác Việt Nam- Trung Quốc, người bạn, người láng giềng thủy chung, thiết tha hòa bình. 2. Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Chúng ta có đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý tin cậy, không thể chối cãi để khẳng định sự thực thi chủ quyền hòa bình, liên tục tại hai quần đảo này. Phía Trung Quốc khi đưa ra bằng chứng lịch sử thì chủ yếu nói tới những ghi chép về sự phát hiện, thám hiểm về Biển Đông, trong khi đó, thế giới hiện đại đã không chấp nhận nguyên tắc xác định chủ quyền trên cơ sở quyền phát hiện, thám hiểm. Bởi lẽ, nếu chấp nhận thì thế giới ngày nay chủ yếu sẽ thuộc về các Viking ở Châu Âu, khi trong lịch sử, họ đã từng chiếm đóng phần lớn Châu Âu, Tây Nam Châu Á, khám phá vùng Bắc Đại Tây dương, Đông Bắc Châu Mỹ; đồng thời, thế giới cũng không chấp nhận và lên án các hành động đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực để chinh phục lãnh thổ . Hơn nữa, lịch sử từ trước đó đến năm 1945, Trung Quốc không hề có sự chiếm cứ thực sự, liên tục, hay sự quản lý hành chính nào đối với các đảo trên Biển Đông. Đối với Việt Nam, các triều đại phong kiến đã thực thi chủ quyền từ khi còn là vô chủ đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, rõ nhất là từ thế kỷ 17. Năm 1816, vua Gia Long ra lệnh cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa; năm 1835, vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia, đóng cọc, trồng cây. Đội Hoàng Sa, Đội Bắc Hải được trao nhiệm vụ tuần tiễu, thu thuế, bảo vệ. Châu bản thời Nguyễn vừa được công nhận Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới Châu Á- Thái Bình Dương, trong đó có 19 bản nói rõ việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Tiếp đó, chính quyền bảo hộ, thuộc địa của Pháp ở Việt Nam đã ký hiệp ước với nhà Thanh (1887), tuyên bố chủ quyền , lập đồn binh, đặt bia chủ quyền, xây trạm khí tượng. xác lập quản lý hành chính… để thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. bác bỏ yêu sách đòi chủ quyền, phản đối hành động chiếm hữu trái phép của Trung hoa Dân quốc (1946,1947). Liên tục sau đó quyền thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa được chuyển giao cho chính quyền Bảo Đại (1950), Việt Nam Cộng hòa (1954). Trong thời gian này, có việc tuyên bố Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam tại Hội nghị quốc tế tại San Francisco (tháng 9/1951) không có sự phản đối nào trước 50 phái đoàn. Những bằng chứng lịch sử của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa là có hệ thống, minh bạch, có giá trị văn hóa, giá trị pháp lý. 3. Khẳng định chính nghĩa, lẽ phải thuộc về Việt Nam, chúng ta luôn được sự đồng tình, ủng hộ của dư luận rộng rãi trên thế giới. Đó là ưu thế trong đấu tranh với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng. Tuy vậy, chúng ta cũng cần phải có phương pháp, bước đi thích hợp, hiệu quả. Phải đảm bảo phù hợp với xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển chung của thế giới, khu vực; tận dụng được mặt tích cực của thế giới đa cực đang hình thành; với truyền thống yêu chuộng hòa bình, đấu tranh giữ nước của dân tộc, với luật pháp quốc tế và phương pháp ứng xử, giải quyết tranh chấp trong thế giới văn minh, với lợi ích lâu dài và sự đan cài giữa các lợi ích về chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội; với truyền thống hữu nghị, hợp tác Việt Nam- Trung Quốc. Điều quan trọng nhất trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trước sự vi phạm, gây hấn của Trung Quốc khi hạ đặt giàn khoan HD 981 ở vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam là cần bình tĩnh, sáng suốt, kiên quyết, kiên trì, không bị lôi cuốn vào những hành động khiêu khích, không để cho Trung Quốc đẩy lên thành vùng có tranh chấp, đòi hỏi phân chia chủ quyền, phân chia lợi ích trên Biển Đông ở những vùng thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, tiến tới độc chiếm Biển Đông. Dân tộc Việt Nam đã từng kiên quyết, kiên trì theo đuổi mục đích, gương cao ngọn cờ chính nghĩa để khẳng định chủ quyền, quyền độc lập, tự chủ sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc; kiên cường, bất khuất, kiên trì bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc bên cạnh nước lớn Trung Hoa; đã thực hiện hai cuộc kháng chiến trường kỳ, đầy gian khổ, hy sinh đề chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Chúng ta kiên trì, kiên quyết đấu tranh, không sa vào những hành động manh động trước sự hung hăng, vô nhân đạo của Trung Quốc, để cộng đồng, dư luận quốc tế ngày càng hiểu rõ chính nghĩa, lẽ phải; để khẳng định cho thế giới về niềm tin chiến lược, vào sự an toàn của đường hàng hải quốc tế trên Biển Đông khi có Việt Nam yêu chuộng hòa bình, hữu nghị, là bạn, là đối tác tin cậy, quốc gia có nền quốc phòng chính nghĩa, hoà bình, tự vệ, ngăn chặn xung đột, chiến tranh; không liên minh với nước này để chống lại nước khác, không nhằm vào bất cứ quốc gia nào. Hoạt động bảo vệ chủ quyền Việt Nam trong thời gian qua đã được thế giới ghi nhận. Các cơ chế quốc tế trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền đã được Việt Nam sử dụng có hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, và nhận được sự ủng hộ của dư luận trong và ngoài nước. Trong khi toàn dân Việt Nam hướng về Biển Đông với tinh thần yêu nước nồng nàn, niềm tin vào chính nghĩa, lẽ phải, kiên trì đấu tranh ngoại giao và trên thực địa; thì vẫn có những thế lực muốn pha loãng, làm chệch hướng lòng yêu nước của dân tộc bằng những hành động xúi giục một số người nhẹ dạ, cả tin, bốc đồng vào những hành động phá hoại, gây rối tại các khu công nghiệp có doanh nghiệp nước ngoài. Hành động đó đã vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới môi trường đầu tư, công nhân tạm mất việc làm. Một số khác luôn tung tin, tạo tin đồn, nói xấu Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, tung hô vai trò không có thật của các tổ chức “Xã hội dân sự” trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông. Sự “hiến kế” của họ không đưa đến sự tăng cường đoàn kết toàn dân tộc, phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng an ninh, chủ động, tự chủ bảo vệ chủ quyền biển đảo mà chỉ dẫn dắt đến con đường hỗn loạn, tình trạng bạo động, tạo nguy cơ xung đột giữa Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, nhân dân, gây ra hoài nghi vào chính nghĩa, sức mạnh của dân tộc, phá hoại tiềm lực chính trị tinh thần, khơi lên thái độ trông chờ, lệ thuộc vào bên ngoài. Chính lúc này, là người dân Việt Nam cần nhân lên lòng yêu nước chân chính, thấu triệt tinh thần “Việc nhân nghĩa cốt để yên dân/quân điếu phạt trước lo trừ bạo” (Cáo Bình Ngô- Nguyễn Trãi). Có niềm tin vào sự chiến thắng của chính nghĩa, lẽ phải, vào tài trí của dân tộc trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo thiêng liêng; tích cực đóng góp công sức, trí tuệ vào sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là việc làm thiết thực, tạo chỗ dựa vững chắc cho lực lượng vũ trang yên tâm với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, cho lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư đấu tranh, thực thi pháp luật, cho ngư dân bám biển, khẳng định chủ quyền biển đảo.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét